Bệnh đái tháo đường có nguy hiểm không?

Tình trạng bệnh đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng và gây nhiều biến chứng nghiêm trọng cho người bệnh. Điều này đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại hàng đầu trong xã hội hiện nay. Việc tiếp cận kiến thức về dấu hiệu bệnh rất quan trọng để phát hiện và điều trị từ đầu.

Thực trạng bệnh đái tháo đường hiện nay

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Thế giới, năm 2019 toàn thế giới có 463 triệu người trông độ tuổi từ 20 – 79 mắc bệnh tiểu đường. Dự kiến năm 2030 sẽ tăng lên 578 triệu, 2045 tăng lên 700 triệu. Điều này đồng nghĩa với việc cứ 10 người lớn sẽ có 1 người bị đái tháo đường. Tuy nhiên, số người mắc đái tháo đường từ 20 – 79 tuổi không được chẩn đoán chiếm 46,5%. Hay có thể hiểu cứ 2 người bị đái tháo đường sẽ có 1 người không biết mình bị bệnh.

Năm 2019, ước tính có hơn 4 triệu người từ 20 – 79 tuổi đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến bệnh đái tháo đường. Việc điều trị bệnh muộn sẽ gây biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người bệnh.

Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường tăng nhanh, số bệnh nhân tăng gấp đôi trong 10 năm. Năm 2017, số bệnh nhân đái tháo đường là 3,54 triệu người chiếm khoảng 5.5% dân số; bệnh nhân tiền tiểu đường là 4,79 triệu người chiếm khoảng 7,4% dân số. Các chuyên gia dự đoán đến năm 2045, tỷ lệ người mắc đái tháo đường sẽ tăng lên chiếm khoảng 7,7% tổng số dân cả nước.

Đái tháo đường là bệnh gì?

Đái tháo đường là một bệnh mãn tính ảnh hưởng đến quá trình biến đổi thức ăn thành năng lượng trong cơ thể.

Thức ăn chúng ta tiêu thụ chủ yếu được phân giải thành đường Glucose và đi vào máu. Khi mức đường Gucose trong máu tăng, tuyến tuỵ sẽ phản ứng bằng cách giải phóng Hormone insulin. Insulin có nhiệm vụ đưa glucose từ máu vào các tế bào để được sử dụng làm nguồn năng lượng cho cơ thể.

Tuy nhiên, ở người bệnh tiểu đường, cơ thể không sản xuất đủ Insulin hoặc không dùng Insulin hiệu quả. Kết quả là mức đường Glucose trong máu tăng cao, kéo dài, gây các vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ, như: suy giảm thị lực; bệnh thân; bệnh tim.

Đái tháo đường được phân các loại, bao gồm:

– Đái tháo đường type 1: Do bị phá huỷ tế bào beta tuỵ, dẫn đến thiếu Insulin hoàn toàn.

– Đái tháo đường type 2: Do giảm chức năng của tế bài beta tuỵ tiến triển trên nền tảng đề kháng Insulin.

– Đái tháo đường thai kỳ: Được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ. Kể cả trong trường hợp người mẹ không bị đai tháo đường type 1 và type 2 trước đó.

– Đái tháo đường do các nguyên nhân khác.

Các triệu chứng bệnh đái tháo đường

Dưới đây là các triệu chứng điển hình của bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, một số người bệnh bị đái tháo đường type 2 có thể có những triệu chứng nhẹ, do đó rất khó nhận biết:

– Đi tiểu thường xuyên.

– Cảm thấy khát nước liên tục.

– Cảm thấy rất đói – ngay cả khi đang ăn.

– Cơ thể cảm thấy thường xuyên mệt mỏi.

– Mắt nhìn mờ.

– Các vết thương hoặc vết loét chậm lành,

– Cơ thể giảm cân ngay cả khi ăn nhiều hơn (đối với người bị đái tháo đường type 1).

– Bị ngứa rát, đau hoặc tê tay ở tay hoặc chân (đối với đái tháo đường type 2).

Nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường

Glucose là một chất cần thiết cho cơ thể từ thực phẩm hàng ngày, cung cấp năng lượng cho tế bào và được lưu trữ dưới dạng Glycogen trong gan. Khi đói, gan sẽ chuyển Glycose để cân bằng mức đường trong máu, cung cấp năng lượng cho tế bào. Tuy nhiên, nếu tế bào không hấp thụ Glucose trực tiếp và cần Insulin giúp, sẽ dẫn đến giảm nồng độ Glucose trong máu và giảm sản xuất Insulin. Sự mất cân bằng này khiến Glucose không thể dịch chuyển vào tế bào và làm tăng lượng đường trong máu theo thời gian.

Dưới đây là một số nguyên nhân gây bệnh đái tháo đường, người bệnh cần biết:

Nguyên nhân gây đái tháo đường type 1

Nguyên nhân của bệnh đái tháo đường loại 1 là do phản ứng tự miễn dịch trong cơ thể nhằm phá huỷ các tế bào beta trong tuyến tuỵ, gây ra sự giảm thiểu hoặc ngừng sản xuất Insulin.

Một số người có yếu tố di truyền từ cha mẹ khiến họ dễ mắc bệnh đái tháo đường loại 1 hơn. Ngoài ra, môi trường cũng có thể đóng vai trò khiến bệnh này phát triển. Một số yếu tố từ môi trường, như virus cũng có thể gây ra bệnh đái tháo đường.

Nguyên nhân gây đái tháo đường type 2

Tỷ lệ người bị tiểu đường loại 2 chiếm tới 90 – 95% trong tổng số người bệnh. Nguyên nhân là do tế bào không phản ứng với Insulin dẫn đến không sử dụng được lượng đường nạp vào cơ thể. Điều này khiến tuyến tuỵ sản xuất nhiều Insulin hơn kích thích các tế bào. Kết quả, lượng đường trong máu tăng, gây tiền tiểu đường và tiểu đường loại 2.

Nguyên nhân gây đái tháo đường thai kỳ 

Bệnh đái tháo đường thai kỳ thường xuất hiện ở phụ nữ mang thai từ tuần thứ 24 – 28. Đặc biệt, sau sinh, đường huyết có thể trở lại bình thường hoặc chuyển thành đái tháo đường loại 2.

Trong thời kỳ mang thai, rau thai sản xuất hormone đặc biệt để hỗ trợ sự phát triển của thai nhi. Những thay đổi này khiến cơ thể người mẹ trải qua nhiều sự biến đổi chẳng hạn như tăng cân.

Nhờ vào những thay đổi này, tế bào cơ thể mẹ không còn đáp ứng hiệu quả với Insulin. Điều này thường sẽ xảy ra trong khoảng thời gian của giai đoạn cuối của thay kỳ.

Các biến chứng nguy hiểm của bệnh đái tháo đường

Các biến chứng nguy hiểm thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, bao gồm:

– Mạch máu: Lượng Glucose trong máu tăng trong thời gian dài có thể gây tổn thương lên mạch máu. Tổn thương ở các mạch máu lớn có thể gây bệnh tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, tổn thương và hẹp các động mạch tứ chi, thậm chí tắc mạch gây hoại tử chi. Tổn thương ở mạch máu nhỏ có thể gây rối loạn hoạt động chức năng của các cơ quan như thận, võng mạc mắt và thần kinh ngoại biên. Nếu không được điều trị hiệu quả, những tác động này có thể dẫn đến suy thận mãn, tăng nguy cơ phải chạy thận nhân tạo hoặc ghép thận, làm giảm thị lực dẫn đến mù loà, dị cảm 2 chi dưới…

– Hô hấp: Bệnh nhân tiểu đường dễ bị viêm phổi, viêm phế quản do bị bội nhiễm vi khuẩn.

– Tiêu hoá: Người bệnh có thể gặp các vấn đề như: viêm quanh nướu răng, rối loạn chức năng gan, viêm loét dạ dày và tiêu chảy.

– Da: Người bệnh có thể gặp tình trạng ngứa ngoài da, mụn nhọt, lòng bàn tay và bàn chân ánh vàng, xuất hiện u màu vàng gây ngứa ở gan bàn chân, bàn tay và mông, viêm mủ da…

– Bệnh Alzheimer: Bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có nguy cơ cao mắc bệnh Alzheimer.

Phụ nữ mang thai bị tiểu đường thai kỳ có thể sẽ gặp một số triệu chứng, gồm:

– Phụ nữ mang thai bị tiểu đường có thể bị tiền sản giật với các triệu chứng như: tăng huyết áp, thừa Protein trong nước tiểu và sưng ở chân; có nguy cơ bị tiểu đường loại 2 về sau.

– Thai nhi có khả năng phát triển hơn tuổi và nguy cơ tiểu đường loại 2 sau này. Nếu không điều trị đúng cách, thai nhi có thể tử vong trước hoặc sau khi sinh.

Các phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường

Hiện nay có rất nhiều phương pháp được dùng để loại trừ bệnh đái tháo đường, như:

– Kiểm tra máu: Sử dụng để cảnh báo nhiệt độ đường trong máu khi đói, sau ăn và trong quá trình tiêu hoá thức ăn.

– Xét nghiệm định lượng HbA1C: Dùng để đánh giá lượng đường trong máu trong khoảng thời gian 3 tháng trước đó.

– Chụp CT thận: Phát hiện các bệnh lý liên quan đến thận và đánh giá xem có biến chứng thận hay không.

– Siêu âm mạch: Dùng để đánh giá đơn giản tình trạng xơ vữa mạch máu, một trong những biến chứng nguy hiểm của bệnh xơ cứng đường.

– Chụp CT mạch vành: Sử dụng để đánh giá mức độ xơ, xơ của động mạch cung cấp máu cho tim, đồng thời dự đoán nguy cơ mạch máu cơ tim trên người bệnh mắc đái tháo đường.

Vì vậy, khi sử dụng các phương pháp trên, bạn nên lựa chọn cơ sở y tế uy tín và chất lượng để khám phá và điều trị. Từ đó để đạt được kết quả tốt nhất cho sức khoẻ của mình.

Phòng ngừa bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường loại 1 không có cách nào có thể ngăn chặn. Bởi, nó liên quan đến hệ thống miễn dịch của chúng ta. Còn đái tháo đường loại 2 được gây ra do gen, tuổi tác… cũng nằm ngoài tầm kiểm soát.

Tuy nhiên, nhiều yếu tố cũng là nguy cơ khác của điều khiển tiểu đường loại 2 có thể kiểm soát bằng việc điều chỉnh chế độ ăn và thay đổi thói quen tập luyện.

Với những người được cảnh báo về tình trạng bệnh đái tháo đường, có thể thực hiện các điều dưới đây để trì hoãn hoặc phòng ngừa đái tháo đường loại 2.

– Dành ít nhất 150 phút mỗi tuần tập cá bài tập Aerobic, đi bộ hoặc đạp xe.

– Loại bỏ chất béo bão hoà, chất béo chuyển hoá và Carbohydrate tinh chế ra khỏi chế độ ăn uống hàng ngày.

– Ưu tiên ăn nhiều trái cây, rau và ngũ cốc nguyên hạt.

– Giảm từ 5% – 7% trọng lượng cơ thể nếu thừa cân hoặc béo phì.

Những biện pháp trên có thể giúp hạn chế nguy cơ phát triển đái tháo đường loại 2. Đồng thời, nó giúp bảo đảm lối sống lành mạnh và cân đối. Tuy nhiên, trước khi thực hiện bất kỳ biện pháp nào, nên tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn và hướng dẫn chi tiết.

Bài viết trên đây là những thông tin chia sẻ về bệnh đái tháo đường giúp bạn có cái nhìn tổng quan hơn về căn bệnh này. Hãy luôn chủ động giữ gìn và bảo vệ sức khoẻ bản thân bằng cách theo dõi sát sao những dấu hiệu bất thường của cơ thể. Hy vọng những thông tin này sẽ hữu ích với người dùng.

 

 

 

 

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo